Những Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Dạy Và Học Tiếng Việt Bậc Tiểu Học Cho Học Sinh Khmer Trên Địa Bàn Thành Phố Hồ Chí Minh
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC XAÕ HOÄI soá 6 (202) 2024
47
NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DẠY VÀ HỌC
TIẾNG VIỆT BẬC TIỂU HỌC CHO HỌC SINH KHMER
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HỒ XUÂN MAI
Kỹ năng sử dụng tiếng Việt của học sinh bậc tiểu học người Khmer hiện nay còn
yếu kém. Thực trạng đó đặt ra các câu hỏi: làm sao để con em dân tộc Khmer
trên địa bàn TPHCM nói riêng, đặc biệt là học sinh bậc tiểu học, có thể sử dụng
tốt tiếng Việt? Những nguyên nhân nào khiến cho việc giảng dạy tiếng Việt cho
đối tượng này chưa đạt kết quả như mong muốn? Chúng ta khắc phục nó bằng
cách nào? Đây là những câu hỏi đang cần được sớm giải đáp .
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Cuối tháng 3/2024, để thực hiện đề tài
nghiên cứu: Thực trạng dạy và học
môn Tiếng Việt bậc tiểu học đối với
học sinh Khmer trên địa bàn TPHCM
hiện nay, chúng tôi có một đợt khảo
sát thực trạng dạy và học môn Tiếng
Việt bậc tiểu học đối với học sinh
Khmer trên địa bàn TPHCM, cụ thể là
các quận Bình Tân và huyện Bình
Chánh. Đây là những địa phương có
số học sinh Khmer tương đối đông,
tập trung hơn các quN 53;n khác trong
Thành phố. Mỗi địa phương chúng tôi
chọn 1 trường; mỗi trường chúng tôi
chọn (ngẫu nhiên) từ các lớp khoảng
20 - 25 học sinh để khảo sát. Tổng
cộng có 45 học sinh người Khmer
tham gia vào cuộc khảo sát này. Có
bốn kỹ năng về tiếng Việt được khảo
sát là nghe, nói, đọc, viết. Ngoài ra,
Hồ Xuân Mai. Tiến sĩ. Trung tâm Nghiên
cứu Văn học và Ngôn ngữ học. Viện Khoa
học xã hội vùng Nam Bộ.
chúng tôi còn phỏng vấn chiến lược
giáo viên, các vị chức sắc tôn giáo và
những người làm công tác giáo dục.
Kết quả khảo sát 25 em thuộc khối 2,
3, 4 của 2 trường thuộc huyện Bình
Chánh và 20 em khối 3, 4 ở quận
Bình Tân, thì có 45 em (100%) đọc
kém và 43 em (hơn 95%) diễn đạt
kém vì không hiểu. Riêng lớp 5, tổng
số học sinh khối này ở hai địa phương
Bình Chánh và Bình Tân chỉ có 10 em.
Khi được yêu cầu viết một đoạn miêu
tả giờ ra chơi, các em p hải rất khó
khăn mới viết được; mỗi em viết trung
bình 6 câu nhưng cả 10 em (100%)
đều sai ngữ pháp, sử dụng từ sai và
sai chính tả.
Tìm hiểu nguyên nhân học tập yếu
kém của học sinh từ những người làm
giáo dục và các bậc phụ huynh học
sinh, chúng tôi có kết quả sau: Trong
số 65 phụ huynh được phỏng vấn, 60
người (hơn 92%) có ý kiến chung là
do đời sống kinh tế của các gia đình
người Khmer còn nhiều khó khăn. Với
48
HỒ XUÂN MAI - NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DẠY...
4 hiệu trưởng và 2 trưởng phòng
được phỏng vấn, thì có 5 người (83%)
khẳng định, ngoài lý do kinh tế, lý do
thứ hai khiến các em tiếp thu bài
không nổi vì năng lực tiếng Việt của
các em quá kém; Có 60 phụ huynh và
24 giáo viên ở hai địa phương Bình
Chánh và Bình Tân cho rằng do ảnh
hưởng của tiếng mẹ đẻ (100%); Có 66
trong tổng số 70 phụ huynh được
phỏng vấn nói rằng có nguyên nhân
từ chính sách tuyển dụng và áp lực xã
hội (94%); Có 30 trong số 35 giáo viên
được hỏi (85%), và đều là người Kinh,
cho rằng do quy định của thời lượng,
phải đảm bảo tiến độ bài giảng, nên
giáo viên không thể dừng lại để giải
thích đầy đủ hơn cho các em học sinh
người Khmer.
Từ các kết quả điều tra, bài viết phân
tích làm rõ những nguyên nhân chủ
yếu dẫn đến tình trạng học tập yếu
kém của học sinh tiểu học người Khmer.
2. VÀI NÉT VỀ NGƯỜI KHMER TRÊN
ĐỊA BÀN TPHCM
Người Khmer đã sinh sống từ r& #7845;t lâu
đời trên địa bàn TPHCM, với tổng số
dân khoảng 24.268 người, tập trung
chủ yếu là các quận Bình Tân (5.358
người), Bình Chánh (4.116 người) và
Thủ Đức (1.487 người). Một vài nơi
như quận 6, 12, Hóc Môn, quận 8 và
Tân Bình cũng có người Khmer sinh
sống nhưng số lượng rất ít, chỉ vài
chục người (do Ban Dân tộc TPHCM
cung cấp).
Đặc điểm lớn nhất của cộng đồng
người Khmer ở TPHCM là sinh sống
khép kín, ít tiếp xúc với những cộng
đồng kh 5;c. Đặc điểm này, cùng với
bản chất thật thà, hiền lành đã làm
thành một cộng đồng người Khmer
còn thụ động giữa một xã hội năng
động như TPHCM. Đó cũng là lý do
khiến đời sống của người Khmer ở
TPHCM còn nhiều khó khăn so với
những cộng đồng xung quanh.
Hầu hết người Khmer theo Phật giáo
Tiểu thừa. Niềm tin tôn giáo đã ăn sâu
vào đời sống của cộng đồng tộc
người này. Chính vì vậy, ngoài thời
gian lao động, học tập, người Khmer
thường tới chùa sinh hoạt. N& #243;i cách
khác, ngôi chùa chính là ngôi nhà thứ
hai của cộng đồng này, đảm nhiệm
những chức năng quan trọng trong
đời sống văn hóa-tinh thần của họ.
Ngôi chùa của người Khmer là một
trường học thực thụ: có người dạy là
các nhà sư; có phòng và lớp học; có
người học, chủ yếu là các đối tượng
trong độ tuổi học phổ thông; có
chương trình giảng dạy với những tài
liệu được biên soạn tùy theo kinh
nghiệm của mỗi người. Hầu hết các
thế hệ người Khmer đều được đào
tạo từ chùa trước khi đi học trong các
trường phổ thông. Vì vậy, nhiều người
Khmer không biết chữ Quốc ngữ
nhưng rất giỏi chữ Khmer. Hiện nay,
khi đang học ở các trường phổ thông,
được học chữ Khmer theo chương
trình phổ thông, nhưng thời gian rảnh
rỗi học sinh Khmer cũng vẫn phải tới
chùa để học chữ(1).
Người Khmer trên địa bàn TPHCM sử
dụng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt để giao
tiếp. Tiếng Khmer thuộ c loại hình đơn
lập như tiếng Việt, nằm trong ngữ hệ
Nam đảo (Austroasiatic), nhóm Môn-
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC XAÕ HOÄI soá 6 (202) 2024
Khmer, và đang trên đường đơn tiết
hóa mạnh mẽ(2). Tiếng Khmer ở
TPHCM nói riêng, Việt Nam nói chung,
có sự khác biệt về ngữ âm, từ vựng
so với tiếng Khmer ở Campuchia.
Tiếng Khmer của người Khmer ở
TPHCM cũng khác với tiếng Khmer
của người Khmer ở Sóc Trăng và Trà
Vinh(3). Người Khmer cũng sử dụng
chữ Sanskrit mượn của người Ấn Độ,
nhưng cũng như tiếng nói, chữ viết
của cộng đồng này có những khác
biệt so với chữ viết của người Khmer
ở chính quốc.
3. NH 7918;NG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN DẠY VÀ HỌC TIẾNG VIỆT BẬC
TIỂU HỌC
3.1. Đời sống kinh tế
TPHCM là một trong những địa
phương phát triển nhất nước. Đời
sống vật chất của người dân thành
phố cũng nhờ đó được cải thiện, mức
sống được nâng cao. Riêng đời sống
của người Khmer chưa được cải thiện
nhiều, mà nguyên nhân chính là sự
thụ động của cộng đồng. Các bậc phụ
huynh người Khmer quan tâm đến
cuộc sống gia đình n hiều hơn việc học
tập của con em. Họ xem việc học của
các em là một hình thức "cho có",
không mấy quan trọng. Mặt khác, do
trình độ học vấn của phụ huynh có
giới hạn nên ít có khả năng kiểm tra,
theo dõi, nhắc nhở con em trong việc
học tập. Cho nên, kết quả học tập của
con em như thế nào phụ huynh hoàn
toàn không biết. Cũng vì đời sống kinh
tế còn khó khăn nên hầu hết các bậc
phụ huynh Khmer ở những địa bàn
chúng tôi khảo sát đều sẵn sàng để
49
con em mình nghỉ học nhằm giảm bớt
chi phí; cũng bởi khi nghỉ học, những
em này còn có thể giúp được cha mẹ.
Rất nhiều em mới chỉ học hết lớp 3, 4
hoặc đang học lớp 5 đã bị bắt buộc
phải nghỉ học. Nói cách khác, vì phải
lo cái ăn cái mặc nên các bậc phụ
huynh Khmer ít để ý đến việc học của
con em mình; không nghĩ rằng việc
học có thể thoát nghèo, cải thiện đời
sống sau này. Đó là lý do tại sao kết
quả học tập của các em học sinh tiểu
h ọc người Khmer trên địa bàn TPHCM
luôn luôn thấp, chưa như mong muốn.
Điều này cũng giải thích số liệu mà
chúng tôi thu thập được: 85% trong
tổng số những trường hợp nghỉ học,
bỏ học của học sinh Khmer trên địa
bàn TPHCM hiện nay là do hoàn cảnh
khó khăn, cha mẹ nghèo túng.
Kết quả của giáo dục nói chung, dạy
tiếng Việt nói riêng, luôn có sự đóng
góp "công sức của ba phía": sự dạy
dỗ của giáo viên, sự nỗ lực của bản
thân học sinh và sự quan tâm c 7911;a gia
đình. Vì thiếu sự chăm lo của gia đình
nên khó nâng cao kết quả học tập của
các em.
3.2. Học sinh Khmer biết nói tiếng Việt
muộn
Một vấn đề khá quan trọng khi nghiên
cứu năng lực sử dụng tiếng Việt trong
giao tiếp của học sinh tiểu học người
Khmer là độ tuổi bắt đầu nói tiếng Việt
của các em. Một học sinh người Kinh
đủ sáu tuổi là bắt đầu học lớp 1. Học
sinh Khmer cũng vậy. Nhưng khác với
học sinh người Kinh, học sinh Khmer,
hoặc bước vào lớp 1 mới biết nói
50
HỒ XUÂN MAI - NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DẠY...
tiếng Việt; hoặc đã biết nói tiếng Việt
nhưng rất yếu, chỉ ở mức bập bẹ hoặc
diễn đạt được một vài câu. Như vậy,
so với học sinh người Kinh, học sinh
Khmer khi bước vào lớp 1 phải tập nói
lần thứ hai. Đây là một trong những
trở ngại rất lớn, cả về mặt tâm lý lẫn
mặt ngôn ngữ học, bắt buộc các thầy
cô giáo phải tốn rất nhiều công sức
nhưng không chắc có kết quả như
mong muốn.
Mặt khác, bậc tiểu học là giai đoạn
các em hoàn th iện ngôn ngữ cá nhân.
Nếu chỉ dạy tiếng Việt thì chắc chắn
các em sẽ sử dụng tiếng mẹ đẻ khó
khăn và không đảm bảo yêu cầu bảo
vệ tiếng nói của các dân tộc ít người.
Còn nếu trường dạy cả hai thì xuất
hiện một khó khăn khác: thiếu đội ngũ
giáo viên biết tiếng Khmer và có năng
lực giảng dạy. Hơn nữa, trên thực tế,
các em đã sử dụng tiếng mẹ đẻ nhiều
hơn tiếng Việt, cho nên, việc học tiếng
Việt trở thành học ngoại ngO 19;. Điều
này cũng có nghĩa là khi bước vào lớp
1, học sinh bậc tiểu học Khmer đã
phải học song ngữ; thậm chí là tam
ngữ (vì các em còn phải học tiếng
Anh). Nói cách khác, học sinh tiểu học
Khmer ngay từ khi bước vào lớp 1 đã
có điểm xuất phát thấp so với học sinh
người Kinh. Đây là một trong những
trở ngại lớn nhất tác động đến quá
trình dạy tiếng Việt cho học sinh
Khmer. Để theo kịp với các bạn cùng
lớp, các em học sinh Khmer phải nỗ
lực rất đặ c biệt, nhưng rõ ràng, với độ
tuổi của các em, điều này là không thể.
Đến khi lên học ở những lớp trên,
trong khi các em học sinh Khmer vẫn
phải đối phó với những hạn chế về
tiếng Việt của mình thì các bạn học
sinh người Kinh cùng lớp đã vượt lên
hẳn, có nhiều ưu thế hơn. Tới đây thì
có hai khả năng xảy ra: nếu mặc cảm
tự ti các em sẽ nghỉ học, hoặc gia
đình cho nghỉ; hoặc các em sẽ luôn bị
thua kém so với các bạn khác trong
lớp.
3.3. Truyền thống văn hóa
3.3.1. Tâm lý ngại tiếp xúc của cộng
đồng tộc người
Một điểm rất đặc biệt ở cộng đồng
người Khmer là h 7885; ngại tiếp xúc với
môi trường xung quanh. Họ sống
khép kín trong phạm vi gia đình và
cộng đồng; chỉ khi nào thật sự cần
thiết thì họ mới giao tiếp với người
ngoài tộc. Đặc điểm này có thể giúp
bảo vệ được đặc trưng văn hóa của
cộng đồng, nhưng mặt trái là nó hạn
chế khả năng tiếp thu các thành tựu
khoa học kỹ thuật và những tiến bộ xã
hội. Đặc biệt, chính vì sống khép kín
nên khả năng phát triển vốn từ tiếng
Việt ̖ 3; cộng đồng này rất hạn chế; khả
năng sử dụng tiếng Việt để giao tiếp
cũng khó khăn; làm hạn chế kỹ năng
sử dụng tiếng Việt như một công cụ
để phát triển xã hội và cộng đồng.
Học sinh bậc tiểu học Khmer cũng có
tâm lý ngại tiếp xúc với bạn bè cùng
lớp, ít nói chuyện hoặc tham gia sinh
hoạt chung với tập thể, do đó kỹ năng
sử dụng tiếng Việt của các em gặp rất
nhiều khó khăn; khả năng tích lũy và
sử dụng vốn từ vựng ở các em c& #361;ng
hạn chế. Mặc dù các nhà tâm lý học
cho rằng ở bậc tiểu học, học sinh
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC XAÕ HOÄI soá 6 (202) 2024
51
thường rất dễ hòa đồng, rất dễ làm
quen, làm bạn, nhưng trên thực tế, do
thói quen của truyền thống cộng đồng,
các em rất khó hòa nhập với các bạn
cùng lớp. Có thể thấy sự thụ động của
các em khi quan sát các em trong
những giờ ra chơi.
tốt tiếng Việt. Mà, khi phải giúp các
em học tiếng Việt, hoặc môn học nào
đó, thì các phụ huynh thường sử dụng
tiếng Khmer để giải thích. Những điều
này khiến cho học sinh tiểu học
Khmer càng ít sử dụng tiếng Việt hiệu
quả.
Một vấn đề cần lưu ý là với học sinh
tiểu học Khmer, trước khi bước vào
lớp 1, hầu hết các em đều không
được đến nhà trẻ hoặc các cơ sở giáo
dục công cộng. Cho nên, các em càng
thêm nhút nhát, ngại tiếp xúc. Tình
trạng này làm tăng thêm khoảng cách
giữa học sinh Khmer với học sinh
người Kinh về điều kiện và năng lực
sử dụng tiếng Việt. Khi học lên những
lớp cao hơn, do vốn từ vựng bị hạn
chế, khả năng tiếp thu bài học của các
em sẽ khó khăn hơn.
3.4. Ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ
3.3.2. Truyền thống sinh hoạt gia đình
Truyền thống sinh hoạt gia đình cũng
là một trong những yếu tố gây trở ngại
đối với việc dạy học tiếng Việt cho các
em học sinh Khmer. Cuộc sống khép
kín trong gia đình, khiến người Khmer
rất ít khi tham gia những sinh hoạt xã
hội. Vì vậy mà học sinh tiểu học
Khmer không có điều kiện tiếp xúc với
thế giới xung quanh. Khảo sát ở
những khu vui chơi, những nơi có
hoạt động văn hóa thì số người
Khmer đưa con em tham gia rất ít,
hầu như l 4; không có. Điều này không
chỉ vì tâm lý cộng đồng, mà còn có lý
do về mặt kinh tế. Hơn nữa, vì hầu hết
các bậc phụ huynh người Khmer đều
sử dụng tiếng Việt còn yếu, cho nên,
không thể giúp con em của mình học
Một lực cản rất lớn khác khi học sinh
tiểu học Khmer học tiếng Việt chính là
tiếng mẹ đẻ của các em. Tiếng Khmer
thuộc ngữ hệ Nam Á, cùng nhóm
Môn-Khmer với tiếng Việt. Tuy nhiên,
tiếng Khmer phần lớn là đa tiết, trong
khi đó tiếng Việt hoàn toàn đơn tiết. Vì
vậy, cách phát âm của các em Khmer
hoàn toàn khác với các em học sinh
người Kinh cùng độ tuổi. Khi bước
vào lớp 1, chính thói quen sử dụng
tiếng mẹ đẻ đa tiết đã thành trở ngại
khi các em tiếp xúc, n& #243;i tiếng Việt(4).
Nếu lỗi phát âm của các em không
được giáo viên khắc phục sớm, thì
những hạn chế này sẽ theo các em về
lâu dài, trong suốt quá trình học tập
sau này.
Nhưng về mặt khoa học, đây là giai
đoạn các em hoàn thiện cơ bản vốn
từ vựng cũng như ổn định ngữ âmtiếng nói của mình. Cho nên, chúng ta
hoàn toàn có thể hướng dẫn, uốn nắn
để giúp các em khắc phục những hạn
chế khi phát âm tiếng Việt.
3.5. Ảnh hưởng của chính sách tuy̓ 5;n
dụng và áp lực xã hội
Có một thực tế là hiện nay tất cả các
cơ quan, đơn vị, công ty trong và
ngoài nước khi tuyển dụng người đều
đưa ra yêu cầu về trình độ ngoại ngữ,